Đất nền Bắc giang

Quy trình thu hồi kim loại quý Antimon từ quặng và bã thải làm nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất công nghiệp được cấp Bằng Độc quyền sáng chế

Quy trình thu hồi kim loại antimon do PGS. TS. Đào Ngọc Nhiệm cùng các cộng sự tại Viện Khoa học Vật liệu đề xuất đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế

     

     Quy trình thu hồi kim loại antimon do PGS. TS. Đào Ngọc Nhiệm cùng các cộng sự tại Viện Khoa học Vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đề xuất đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng sáng chế, bởi quy trình này không chỉ giúp tận dụng triệt để nguồn antimon từ các quặng nghèo, quặng phế thải, mà còn góp phần mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc thu hồi các kim loại quý hiếm có giá trị kinh tế từ quặng và bã thải ở Việt Nam hiện nay.

     Antimon (Sb) được biết đến như là kim loại màu quan trọng, làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như sản xuất vòng bi, trục máy, phụ tùng ôtô. Đặc biệt, antimon được sử dụng nhiều trong sản xuất các sườn cực ắc-quy, chiếm từ 10 đến 12% khối lượng của các sườn điện cực. Ngoài ra, trong lĩnh vực quốc phòng, antimon được dùng để chế tạo vỏ lựu đạn, chất nổ. Một số lĩnh vực khác như sản xuất cao su, thủy tinh, thuốc nhuộm, diêm, dây cáp, vật liệu bán dẫn cũng dùng các nguyên liệu chứa kim loại antimon.

     Trong bối cảnh trữ lượng khoáng sản ở nước ta ngày càng cạn kiệt, nhu cầu tận thu nguồn kim loại, phi kim quý… từ các quặng nghèo, quặng phế thải và chất thải đã được các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu. Là người quan tâm đến việc thu hồi kim loại quý từ các mỏ khoáng sản, vào năm 2000, PGS. TS. Đào Ngọc Nhiệm đã quyết định tham gia nghiên cứu về công nghệ thu hồi vàng ở Hòa Bình. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra trong quặng đuôi của quá trình thu hồi vàng có chứa một lượng đáng kể antimon ở dạng sufua đa kim Sb2S3. “Nhưng lúc bấy giờ chúng tôi vẫn chưa có đủ điều kiện để nghiên cứu. Mãi đến năm 2013, khi Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giao cho chúng tôi thực hiện đề tài Nghiên cứu chiết tách, thu hồi antimon có độ sạch ít nhất là 99,5% từ quặng antimon Tân Lạc – Hòa Bình, chúng tôi mới có đủ nguồn lực để nghiên cứu một cách hệ thống về thu hồi làm sạch antimon từ các nguồn quặng nghèo.” - PGS. TS. Nhiệm bồi hồi nhớ lại.

Hình ảnh quặng Antimon

     Trước đây, quá trình tách kim loại antimon được thực hiện bằng một số phương pháp khác nhau, trong đó có hai phương pháp hay được sử dụng trong thực tế là hỏa luyện và thủy luyện. Nhìn chung, antimon thu được từ các phương pháp này có độ tinh khiết không cao, thường là dưới 95%, do đó cũng bị hạn chế khả năng ứng dụng và có giá trị kinh tế không cao. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định tập trung khắc phục thiếu sót về độ tinh khiết của sản phẩm thu được, giảm độ giàu của nguyên liệu đầu vào, từ đó mở rộng nguồn antimon.

     Để đạt được mục đích trên, nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu đặc tính của kim loại antimon, từ đó tìm ra điều kiện quy trình tối ưu để thu hồi được kim loại quý này. Trong quá trình nghiên cứu, PGS. TS. Nhiệm cùng các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm trên quặng antimon được lấy từ Tân Lạc – Hòa Bình. Các nhà khoa học đã nghiền nhỏ quặng này thành các hạt có kích thước hạt < 0,74 µm, sau đó đem đi phân tích, xác định thành phần cấu trúc trên máy Siemens D 5000 và phân tích thành phần nguyên tố trên máy Perkin-Elmer 900. Kết quả phân tích cho thấy thành phần khoáng chủ yếu của mẫu là Sb2S3 với cấu trúc stibnit còn có lẫn một phần khoáng (K,Ca,Na)(Al,Mg,Fe)2(Si.Al)4O10(OH)2 dạng muscovit và SiO2 dạng thạch anh.

     Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm trên nhiều mẫu antimon khác nhau để tìm ra được một quy trình có thể áp dụng cho tất cả các nguồn chứa antimon bao gồm quặng antimon nghèo, quặng antimon, phế thải chứa antimon như khung xương của ăc-quy axit chì,… thích hợp để hòa tách bằng axit clohydric (HCl). Trong trường hợp nguồn antimon là quặng antimon mà không thể trực tiếp hòa tách được bằng HCl thì nó cần qua bước sơ chế, cụ thể là nung trong không khí để chuyển hóa thành dạng có thể hòa tan được bằng HCl.

     Sau khi hòa tách nguồn antimon bằng dung dịch HCl, cần tiến hành lọc tách để thu dung dịch muối antimon clorua. Bước thứ hai, tiếp tục bổ sung HCl vào dung dịch muối antimon clorua thu được đến trị số độ pH từ 1 đến 1,5 để tạo kết tủa antimon hydroxit, sau đó lọc và rửa để thu kết tủa antimon hydroxit. “Lượng axit HCl còn dư sẽ tiếp tục được quay vòng về bước hòa tách, giúp tận dụng lượng axit dư, giảm tác động đến môi trường” – PGS.  TS. Nhiệm cho biết.

     Antimon hydroxit thu được ở trên được rửa sạch bằng nước đến trung tính, độ tinh khiết của nó lúc này khoảng 90%, chưa thể để ứng dụng vào sản xuất antimon kim loại có phẩm cấp cao. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đề xuất chiết lỏng lỏng ở bước tiếp theo.

     Để thực hiện việc chiết lỏng lỏng, cần bổ sung kết tủa antimon hydroxit vào dung dịch axit clohydric, pha loãng bằng nước để thu được dung dịch muối antimon clorua có nồng độ từ 0,08 đến 0,25M. Nồng độ antimon clorua bắt buộc phải nằm trong khoảng giá trị nêu trên để tối ưu hóa quá trình chiết lỏng lỏng. Lúc này, cần tiếp tục chiết dung dịch antimon clorua thu được bằng dung dịch tác nhân chiết mono-2-etylhexyl (2-etylhexyl)phosphonat trong kerosen để thu được pha hữu cơ chứa antimon; và rửa giải pha hữu cơ chứa antimon thu được bằng cách cho tiếp xúc với dung dịch axit HCl có nồng độ nằm trong khoảng từ 6 đến 9M, số bậc rửa giải nằm trong khoảng từ 1 đến 2, thu được pha nước chứa antimon. Cuối cùng, điện phân pha nước chứa antimon để thu được antimon kim loại với hiệu suất thu hồi có thể đạt đến 99,9%.

     Không chỉ có độ sạch cao hơn, PGS. TS. Đào Ngọc Nhiệm cho biết thêm “tùy tình hình quy mô thực tế, chí phí của quy trình công nghệ này chỉ bằng 1/3 so với nhập ngoại”. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đang liên hệ và kết nối để chuyển giao cho các nhà máy về tinh chế thu hồi antimon ở Hòa Bình và Hà Giang.

     Với những số liệu khả quan này, quy trình thu hồi antimon từ nguồn antimon đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế số 1-0023004, được công bố vào ngày 25.2.2020.

     Bước đầu kết quả nghiên cứu về antimon chính là động lực giúp PGS. TS. Nhiệm và nhóm nghiên cứu có thêm cơ sở để nghiên cứu các quy trình công nghệ nhằm tận thu những kim loại có giá trị kinh tế cao, giúp sử dụng hiệu quản nguồn khoáng sản có ích làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất, và xa hơn nữa là thay thế hàng nhập ngoại.

     Nguồn bài viết: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Cục Sở hữu trí tuệ 

Lễ trao học bổng Odon Vallet dành cho các sinh viên và học viên sau đại học có thành tích xuất sắc năm học 2020 khu vực phía Bắc

Ngày 22/09/2020, tại Hội trường tầng 2, nhà B2, Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã diễn ra lễ trao học bổng Odon Vallet dành cho các sinh viên và học viên sau đại học có thành tích xuất sắc năm học 2020 khu vực phía Bắc.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và điều hành

Theo bảng xếp hạng, năm 2019, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm KHCNVN) đứng thứ 2 trong nhóm các cơ quan thuộc Chính phủ, tăng 2 bậc so với năm 2018 về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước.

Tổng hợp hạt nano vàng chức năng hóa bề mặt bởi polydopamine (Au@PDA NPs) bằng plasma lạnh định hướng ứng dụng trong lĩnh vực y sinh

Nhóm nghiên cứu Phòng công nghệ plasma hợp tác cùng Trung tâm nghiên cứu plasma y sinh (PBRC), Đại học Kwangwoon, Hàn Quốc sử dụng plasma lạnh để tổng hợp vật liệu hạt nano vàng

Chi đoàn thanh niên Viện Khoa học vật liệu dâng hương tri ân tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ

Nhân kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh liệt sĩ, chiều ngày 27/7/2020, Chi Đoàn Thanh niên Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ tại nghĩa trang Mai Dịch, là nơi yên nghỉ của 1228 anh hùng liệt sĩ

Cảm biến điện hóa phát hiện nồng độ asen (V) trên cơ sở sử dụng màng mỏng vật liệu tổ hợp ống nano các bon hai tường và graphene

Nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học vật liệu đã công bố công trình khoa học sử dụng màng mỏng vật liệu tổ hợp ống nano các bon hai tường (DWCNTs) và graphene (Gr) đơn lớp nhằm phát hiện nồng độ asen (V) trong môi trường cholesterol

Vật liệu xúc tác quang trên cơ sở vật liệu nano TiO2 trong phân hủy chất màu hữu cơ

Nhóm nghiên cứu tại Viện KHVL đã đánh giá hiệu quả xúc tác quang hóa của các tinh thể nano TiO2 trong phân hủy chất màu hữu cơ Rhodamine B và Rose Bengal